Loading...

Switch Language

IN ẤN CHUYÊN NGHIỆP CHO NHIẾP ẢNH – P1: Công nghệ in

IN ẤN CHUYÊN NGHIỆP CHO NHIẾP ẢNH – P1: Công nghệ in

by Danny Bach, June 6, 2017

GIỚI THIỆU

 

Chỉ khi ảnh được in, bạn mới thực sự thấy tác phẩm của mình.

Bản thân tôi cũng là một nhiếp ảnh gia nên việc in ấn càng trở nên thật sự quan trọng. Vì thế tôi xin được chia sẻ một chút kiến thức về in ấn đã học được trong thời gian học về Photo Imaging bên nước Úc.

Trong thời đại analog (kỹ thuật xưa) thì công việc sản xuất ra một tấm hỉnh phải được thực hiện trong phòng tối với máy phóng, rọi, tráng ảnh, cùng với vô số các chất hoá học để thợ tráng có thể chỉnh sửa (retouching) theo mong muốn của mình hoặc của nhiếp ảnh gia.

Ngày nay, trong thời kỳ digital (kỹ thuật số), việc xử lý hậu kỳ một tấm hình đã trở lên an toàn và gọn gàng hơn rất nhiều. Người thợ in giờ không còn phải tiếp xúc trực tiếp với những hoá chất độc hại để thực hiện công việc của mình nữa. Những chất hoá học đó đã được thay thế bằng những thiết bị của công nghệ kỹ thuật số.

Cả 2 thời kỳ analog và kỹ thuật số đều có những kỹ thuật/công nghệ in đa dạng. Các bài viết trong series in ấn này sẽ tập trung chủ yếu vào công nghệ in trong thời kỳ kỹ thuật số.

Nguồn ảnh: Alexsb.org

 

Bài viết này sẽ được chia làm 3 phần có tiêu đề như sau:

Phần 1 – Các công nghệ in ấn trong ngành nhiếp ảnh kỹ thuật số.

Phần 2 – Thiết lập môi trường làm việc và một trình làm việc (workflow) xuyên suốt, lựa chọn và cài đặt thiết bị đầu cuối chính xác. Cân màn hình (Monitor calibration), cân giấy và máy in (printer calibration), tiêu chuẩn sáng D50 là gì?

Phần 3 – Quá trình hoàn thành bản in. Quá trình in: Chỉnh sửa, Kiểm màu mềm (Softproofing), in thử (Proofing)-phân tích-cân chỉnh, in chính thức.

PHẦN 1: CÔNG NGHỆ IN

Không kể tới các phương pháp in công nghiệp/số lượng lớn như in off-set, tôi chia in ấn chuyên nghiệp cho nhiếp ảnh ra làm 2 loại thông dụng nhất hiện nay: truyền thống (Traditional C-print hoặc Wet Printing) và In mỹ thuật (Fine Art Printing hoặc Giclée Printing).

 

Nguồn ảnh: Lighting Essentials

 

A – In truyền thống (C-printing hay wet process):

In truyền thống là in tốc độ cao bằng máy in laser/LED chiếu ảnh lên trên bề mặt những giấy phủ bạc nhạy sáng, ảnh được rửa hoá chất qua một quá trình khép kín. Những hãng tiêu biểu có thể kể tên như sau:

Catalog máy in Chromira 5 X 30

– Fujifilm: máy in chủ đạo của hãng là Frontier được dùng ở BigW, Harvey Normal ở Úc; và các lab Fujifilm ở Việt Nam. Máy này nếu đúng tiêu chuẩn ở Úc họ sẽ in trên giấy Crystal Archival của Fuji, hoặc vài loại giấy khác khá thú vị nếu bạn chịu tìm kiếm. Chất lượng in rất hài lòng, tôi thích chất liệu matte (giấy không bóng) hơn là Glossy (giấy bóng) và chất liệu high-gloss siêu bóng của Fujifilm. Trên thực tế Matte của Fuji chỉ giống như semi-glossy (tạm dịch: hơi bóng) mà thôi. Hình ảnh in ra sắc nét, hài hoà, chỉ buồn là giấy hơi mỏng và ít lựa chọn. Nhưng tiền nào của nấy, không thể đòi hỏi nhiều khi in chi phí thấp.

– Kodak: máy in chủ đạo là dòng Noritsu, được dùng ở Office Works ở Úc và các lab Kodak ở Việt Nam. Chất lượng in ko được như tôi mong muốn, bão hoà màu cao, ko sắc nét bằng Frontier. Chỉ sử dụng khi bất đắc dĩ 😀

– Chromira: máy in sử dụng phương pháp tráng, rửa ảnh cổ điển sử dụng hoá chất, kết hợp công nghệ kỹ thuật số; được dùng duy nhất ở lab ảnh chuyên nghiệp CPL Digital ở Úc và một số lab lớn khác trên thế giới, hiện tại Việt Nam mình chưa thấy có. Ảnh in bằng Chromira được tráng trên giấy đặc biệt của Fujifilm. Sản phẩm ảnh có thể nói là đạt được chất lượng cao nhất trong các dòng máy truyền thống tôi đã thử nghiệm.

– Pegasus: máy in của hãng Kodak sử dụng phương pháp tráng, rửa tương tự Chromira. Ở Úc thì mình đã thử nghiệm máy in này tại lab Prism Imaging. Chất lượng sản phẩm in có thể nói là tương tự như CLAB nhưng bản thân mình vẫn thích ảnh được in từ CLAB hơn. Một điều nên được đề cập nữa là cả CLAB và Pegasus đều có thể in lên chất liệu giấy ánh kim (metallic) – một loại giấy đặc biệt bóng.

Ngoài ra còn có offset/press printing, thường dùng để in sách báo. Tuy nhiên, tôi chưa có kinh nghiệm nhiều về press printing nên cũng chưa có đánh giá gì cụ thể.

————-

 

 

Ảnh lab tại nhà của mình bên Úc năm 2012 khi mới bắt tay vào việc học và thực hành in ấn mỹ thuật.

B – In mỹ thuật:

In mỹ thuật ngày nay chủ yếu là in phun bằng máy in sử dụng mực pigment (tạm dịch: mực sắc tố), tiếng Anh có các tên gọi như Fine art printing, Giclée printing hay Archival pigment printing. Cho tới năm 2019 (khi chỉnh sửa bài viết này), vẫn chỉ có VG-Lab là phòng in đạt chuẩn in mỹ thuật cao cấp được vận hành bởi người Việt Nam. Phòng in thứ 2 là phòng in của một NAG kỳ cựu tới từ Canada (Phòng in Được chứng nhận bởi Canson)

Về phần thiết bị in, các máy in phun mỹ thuật thường sử dụng 8 đến 12 lọ mực màu khác nhau. Kích thước máy in từ để bàn khổ nhỏ (size A3+, A2, A2+), hoặc khổ lớn hơn (chủ yếu giấy cuộn khổ ngang 24 inches, 44 inches tới 64 inches, chiều dài kéo dài đến 100 foot – tương đương 30.5 m – và còn nhiều kích cỡ kém phổ biến khác).

Khi sử dụng mực chính hãng, dựa trên dữ liệu của nhà sản xuất và một số phòng thí nghiệm chuyên nghiên cứu về in ấn khác như Wilhelm Imaging Research, tuổi thọ của bản in có thể vượt qua 200 năm mới bắt đầu phai màu (tuỳ thuộc vào loại máy in, mực, giấy và điều kiện bảo quản). Trên thị trường hiện tại có 2 hãng cung cấp máy in phun mực pigment chính là EpsonCanon. Tôi đã có điều kiện trải nghiệm cả 2 hãng, tôi thấy 2 hãng đều cho ra sản phẩm có chất lượng tương đương nhau, chỉ phụ thuộc vào thói quen và sở thích của từng người mà chọn mua máy mà thôi 🙂

Việc in ảnh (theo kỹ thuật in) mỹ thuật thực sự thú vị ở khâu lựa chọn giấy khi càng ngày càng có nhiều sản phẩm giấy in mỹ thuật, chủ yếu trên thị trường hiện tại là các hãng giấy phương Tây như: Ilford, Museo, Canson Infinity, Hahnemuhle, Epson, Canon, v.v.. Giấy in mỹ thuật được phân loại phong phú theo độ nặng (gsm), độ dày (thickness) và chất liệu (nhám/mịn/bóng) bề mặt.

 

Một số bề mặt giấy in mỹ thuật phổ biến nhất. Nguồn ảnh: Pixelated Palette

 

Với công nghệ in này, ảnh được in phun trên 2 định dạng giấy cơ bản:

  1. Giấy ảnh (Photo papers): Là các loại giấy có thông số bề mặt glossy, luster, pearl, satin và metallic tương tự như các loại giấy ảnh truyền thống, sử dụng tối ưu hoá mực Photo Black.
  2. Giấy matte (Matte papers): Là các loại giấy có thành phần là sợi cotton, bột giấy (alpha-cellulose), sợi tre, bột gạo hoặc chất liệu canvas (vải bố cao cấp), sử dụng tối ưu hoá mực Matte Black.

Hai loại giấy in này đều mang tính lưu trữ cao (archival). So với giấy in truyền thống (C-Prints) ở trên thì giấy in mỹ thuật có độ bền cao hơn rất nhiều lần.

Việc phân loại giấy theo 2 định dạng trên chủ yếu để cho thợ in có thể xác định được loại mực để thực hiện việc in ấn được hiệu quả tối ưu. Còn với nhiếp ảnh gia, hoặc nghệ sĩ hình ảnh muốn chọn các loại giấy cho mình thì tôi nghĩ nên ĐỌC BÀI VIẾT NÀY

 

ĐIỂM ĐẶC SẮC CỦA IN MỸ THUẬT

Trong dải màu mắt người có thể nhìn thấy được thì ProPhotoRGB hiện nay là hệ thống màu lưu trữ được nhiều màu nhất. Epson 2200 Prem. Luster là một loại giấy in phun của Epson. Rồi sau đó mới tới Adobe RGB 1998. Tiếp theo là Chromira: mức độ thể hiện màu của máy in truyền thống Chromira (C-Printer) cao cấp.

 

In ấn mỹ thuật có ưu điểm là in được dải màu rộng (Adobe RGB 1998) tới siêu rộng (>Adobe RGB 1998) do nhiều lớp mực hơn, đa dạng về lựa chọn giấy, mỗi loại giấy lại có thể hiện khác biệt nhau về tác phẩm, góp phần tạo lên phong cách cho từng bức ảnh.

Vài nhược điểm lớn nhất của kỹ thuật in Giclée là:

  • Giá thành cho mỗi bản in cao hơn so với in truyền thống.
  • Quy trình duy trì chất lượng tốn nhiều thời gian và tiền bạc.

 Do đó ở Việt Nam, sự phổ biến của in ấn mỹ thuật chưa được rộng. Chủ yếu do kỹ nghệ in Giclée này còn khá mới mẻ trên thế giới (Mới khoảng 30 năm tuổi và thực sự nở rộ khoảng ~10 năm gần đây).

Việc in ấn mỹ thuật cũng kỳ công, người làm ảnh phải cân chỉnh màn hình (monitor calibration) bằng các thiết bị chuyên dụng và đúng cách. Người in ảnh phải tạo ICC profile máy in với giấy in tương ứng (Công đoạn này được gọi là printer calibration hoặc ICC profiling). Như vậy mới đảm bảo tạo ra một bản in chính xác và đẹp nhất có thể. Những điều đó, tôi sẽ nói ở phần sau.

Mời tham khảo bài viết: Sự khác nhau giữa in mỹ thuật Giclee printing và in truyền thống C-Printing.

Các bạn đọc bài mà thấy cần bổ sung hay gì thắc mắc xin hãy chia sẻ. Chúng ta cùng học hỏi lẫn nhau.

 

XIN HÃY ĐỌC

TÔI BIẾT CÓ NHIỀU NHÀ IN ĐÃ VÀ ĐANG SETUP PHÒNG IN DỰA TRÊN CÁC THÔNG TIN TRONG BÀI TIỂU LUẬN NÀY. NẾU ĐỌC TỚI ĐÂY, XIN HÃY CHIA SẺ NÓ SÂU RỘNG RA NỮA, ĐỂ ANH EM ĐỀU CÓ ĐƯỢC MỘT NỀN TẢNG CƠ SỞ VỮNG CHẮC.

XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!!!

Mời đọc phần 2 TẠI ĐÂY

Nghiên cứu, tổng hợp, biên soạn bởi Nhiếp ảnh gia/Master printer Bạch Nam Hải.

Các nguồn đã tham khảo:

Bạch Nam Hải tốt nghiệp chương trình nhiếp ảnh và công nghệ nhiếp ảnh của RMIT Media & Communication năm 2016. Từ năm 2013, anh đã được đào tạo về in ấn mỹ thuật kỹ thuật số (Fine art/Giclée printing). Bắt đầu từ đó, anh luôn là người tự tay in những tác phẩm nhiếp ảnh của bản thân. Khi về nước vào năm 2017, anh nhận thấy rằng sân chơi nhiếp ảnh và nghệ thuật tại Việt Nam thiếu một phòng in cao cấp để sản xuất tác phẩm trong thời đại kỹ thuật số, nơi có thể thỏa mãn được những yêu cầu tinh tế nhất của những nghệ sĩ đang sống và làm việc tại Việt Nam. Đó là lý do vì sao VG-Lab (Vietnam Giclée Lab) ra đời. Ngoài phục vụ sản xuất cho VG-Lab, Nam Hải còn là một nhiếp ảnh gia chân dung và tư liệu. (Xem thêm tại: www.DannyBach.com)